“ 2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ.
3. Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để:
a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác,
b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội."
(Điều 19. Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, LHQ biểu quyết năm 1966, VN ký và tham gia ngày 24/9/1982).
Biết được sự thiệt tuy khó, nhưng còn khả dĩ; nói rõ được sự thiệt hầu như bất khả !"... ĐÃ XA RỒI CÁI THỜI MÀ AI NÓI RA ĐIỀU GÌ CŨNG SỢ BỊ PHÊ PHÁN MẤT LẬP TRƯỜNG, CẢ XÃ HỘI BỊ ÉP SỐNG TRONG CÁI VỎ ĐẠO ĐỨC GIẢ, TỪ TRÊN XUỐNG DƯỚI, NÓI THÌ RẤT HAY, NHƯNG LÀM THÌ NGƯỢC LẠI..." (GS Hoàng Tụy)
Suy gẫm hôm nay: "VẪN BIẾT SỐNG LÀ HƯỚNG ĐẾN TƯƠNG LAI, NHƯNG QUÁ KHỨ LÀ TẤM GƯƠNG NÊN SOI LẠI!"

Thứ Năm, ngày 21 tháng 4 năm 2016

KHI "VĂN NHÂN" NƠI" VÕ ĐỊA" ĐẤM NHAU !

 (Qua việc khen chê tác phẩm “Văn nhân Bình Định - một góc nhìn” )

- THỬ:  chưa thấy "viết thị", chỉ thấy được cái nầy.

- BỈ: "viết phi", tui đã có bày tỏ ý kiến của mình, ở đây.

- BỈ: "viết phi", thậm chí "viết thậm phi", ở đây. Bởi mấy lẽ:
   1./ Ngay cái danh xưng tổ chức của nẫu mà gọi cũng không trúng thì nội dung, chất lượng của nẫu làm sao mà chánh xác được. Làm gì có cái gọi là "Phân hội Văn học" mà nó là "Chi hội", trừ khi muốn "bôi bác", cho cả cái "Chi Hội" ấy của nẫu có cái mùi chất bài tiết đặc của động vật. Nếu như vậy, vô hình trung là cho cả tất tần tật các hội viên trong Chi Hội văn học của Hội Văn học Nghệ thuật Bình Định sao?
   2./ Mấy tác phẩm của nhà văn chống cộng Võ Phiến đã được cho xuất bản ở trong nước cũng nêu không trúng, thì tui đồ rằng việc dẫn chứng sự chống cộng của nhà văn Võ Phiến, chẳng qua "bên bỉ" cũng chỉ được học thuộc lòng thôi chớ nào đâu biết ông ta sai lầm như thế nào?
   Hai tác phẩm của nhà văn Tràng thiên, tức Võ Phiến được Nhà nước ta cho xuất bản ở nước CHXHCN Việt Nam, đây nè:
   3./ Đem cả nhân thân của nẫu, mà ác thay lại là lãnh vực "nhạy cảm", tức là "chánh trị" "tôn giáo", mà điều nầy chỉ được "nghe nói", mới "nghe nói" mà đã kết tội, quy chụp rồi suy diễn cho nẫu là "nhà văn XHCN" linh hồn cờ vàng.
 
4./ Với sơ sơ mấy dẫn chứng nêu trên đã cho thấy rằng, khi "VĂN NHÂN" nơi "VÕ ĐỊA" mà đấm nhau thì ghê gớm lắm, nẫu sẵn sàng dùng tất cả mọi đòn, mọi thế, thậm chí đâm cả vô những chỗ nhạy cảm nhứt, để hạ đối phương!

P/s: Tham khảo thêm: "Văn dĩ tải đạo" (cả lẫn )!



Thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2015

CẢM ƠN ĐỨC PHẬT ĐÃ CẦU SIÊU CHO CON!


          Tối 15-11, Lễ tưởng niệm cho các nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông năm 2015 đã diễn ra tại Hà Nội. Hơn 600 ngọn nến được thắp sáng để tưởng niệm các nạn nhân xấu số. Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các vị lãnh đạo thắp nến và đọc kinh Nam mô A Di Đà Phật để cầu siêu cho nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông:

          Thường thì gặp việc gì mà ngoài khả năng giải quyết, xử lý của mình, chúng ta mới "cầu Trời, khấn Phật". Ai dè Phó thủ tướng chánh phủ ta cũng thắp nến, đọc kinh để cầu vãng sanh cho các nạn nhơn bị tai nạn giao thông, thiệt là cảm động quá đi!
          Khiến tui nhớ lại một giấc mơ cách nay suýt soát 2 năm:

          NA MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT!

          Có người nhờ ĐỨC PHẬT làm lễ cầu siêu để ĐỘ cho một người thân bị chết vì tham gia giao thông trái luật. 
          ĐỨC PHẬT hỏi :
- Hòn đá rơi xuống đáy sông thì có cầu siêu để ĐỘ cho hòn đá nổi lên được không ??? 
NGƯỜI ĐÓ trả lời :
- Con chưa từng thấy !!!
          ĐỨC PHẬT lại hỏi :
– Dầu mỡ nổi trên mặt sông thì có cầu siêu để ĐỘ cho dầu mỡ chìm xuống đáy sông được không ??? 
          NGƯỜI ĐÓ trả lời :
- Con chưa từng thấy !!!
          ĐỨC PHẬT nói tiếp :
- Đúng vậy !!!
          ĐỨC PHẬT lại hỏi :
- Ngươi có sợ chết vì tai nạn giao thông không ???
          NGƯỜI ĐÓ trả lời :
- Con sợ !!!
          ĐỨC PHẬT nói tiếp :
- Vậy ngươi hãy tham gia giao thông đúng luật và kêu gọi mọi người cùng tham gia giao thông đúng luật !!! 
          NGƯỜI ĐÓ trả lời :
- Con sẽ làm theo lời ĐỨC PHẬT dạy. Nếu con tham gia giao thông đúng luật mà vẫn bị CHẾT vì tai nạn giao thông là do kiếp trước con chạy xe trái luật tông chết người lành, nay bị quả báo??? không có cách gì thoát được NGHIỆP sao ??? 
          ĐỨC PHẬT nói :
- Có! Nếu hàng ngày ngươi san lấp ổ gà, dắt người già qua đường ..v…v… Thì nghiệp dữ giảm đi, nghiệp lành tăng lên. Nếu có bị tai nạn giao thông thì không chết mà chỉ trầy xước cùng lắm là gãy chân thôi!!! 
          NGƯỜI ĐÓ nói :
- Cảm ơn Đức Phật đã cầu siêu cho con, ĐỘ cho con khỏi chết vì tai nạn giao thông.

          NA MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT! 
 (Ghi chép lại một giấc mơ hôm 22/11/2013)




Chủ Nhật, ngày 15 tháng 11 năm 2015

BÀI HỌC LỊCH SỬ

Đố mọi người biết bọn chúng là ai và ai đã nói những điều nầy?
 

         "...  Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

          Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

          Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

          Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

          Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

          Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

          Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn. ..."







Thứ Bảy, ngày 10 tháng 10 năm 2015

VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NHẬT TUẤN!

          Qua báo Tuổi Trẻ Online lúc 08/10/2015 08:00 GMT+7, được biết nhà văn Nhật Tuấn, bào đệ của nhà văn Nhật Tiến, đã từ giã cõi đời vào lúc 18g ngày 6-10 tại TP.HCM do chứng phù nề hành tá tràng.

          Ngày 10/10/2015, lúc 10 giờ, sẽ cử hành lễ động quan và hỏa táng tại nghĩa trang Bình Hưng Hòa.

          Cầu mong nhà văn Nhật Tuấn được yên giấc nghìn thu!
***
***** 
         Là người sanh ra và lớn lên ở miền Nam, tôi chỉ mới biết đến nhà văn Nhật Tuấn từ năm 1994, khi nhà xuất bản Văn học xuất bản tập truyện "Quê nhà Quê người" của ông viết chung với nhà văn Nhật Tiến.
          Nhà văn Nhật Tiến, bào huynh của ông, với những Thềm hoang (Đời nay, 1961 - Giải thưởng Văn chương toàn quốc 1962), Chim hót trong lồng (nhật ký, Huyền Trân, 1966), Lá chúc thư (Huyền Trân, 1971), Thuở mơ làm văn sĩ (Huyền Trân, 1973)… đã trở thành là một phần không thể thiếu trong tuổi học trò trong trẻo của chúng tôi.

           Rồi lại nghe thêm chuyện "lùm xùm" quanh "Quê nhà Quê người" của 2 anh em ông:
            Sau đó, trên blog cá nhơn "Thời 2 Đ: Thời đồ đểu, điên đảo, điếm đàng, đĩ điếm, đơn độc" của ông, ông có "30 tháng 4 - chuyện bây giờ mới kể", Có mấy chi tiết mà bào huynh của ông phải "đính chính""sự kiện  xẩy ra đã gần 40 năm, chuyện nhớ sai cũng là bình thường nhưng cũng  xin đính chính để tránh gây ngộ nhận."

           Trước giờ di hài của ông được trở về với tro bụi, tôi xin mạn phép được dẫn lời một facebooker:

            "Nhà văn Nhật Tuấn thuộc nhóm trí thức đi từ Bắc vào Nam, ở cả sáng tác văn học và báo chí của ông, chúng ta đều thấy tính phóng khoáng của người từng trải, phải sống giữa “thời đồ đểu” (chữ của ông); thấy cả giọng bất mãn của một người có lòng, biết yêu thương con người; và thấy cả sự tức giận của một con người có chí khí, thẳng tay tố cáo những cái xấu đang diễn ra trong nước."

           Như một nén nhang lòng thay lời vĩnh biệt , kính tiễn ông về cõi vô biên!
          




Thứ Tư, ngày 07 tháng 10 năm 2015

CHỈ CẦN "MẤY ỔNG THÔNG CẢM"!

            AI DÁM BẢO THỦ TỤC QUẢN LÝ XÂY DỰNG CỦA NHÀ NƯỚC TA LÀ LỎNG LẺO HAY QUAN LIÊU, ... AI DÁM BẢO CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TA LÀ "LÀM KHÓ CHO DOANH NGHIỆP!

           HÃY COI ĐÂY: "... Cho xây dựng trước giấp phép cũng có, mấy ổng thông cảm, mấy ảnh nói thôi cứ làm đi rồi giấy phép sẽ cấp sau, cho nên mình thấy đấy là 1 cái rất là tốt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp …"





Thứ Năm, ngày 01 tháng 10 năm 2015

VĨNH BIỆT THẦY ĐOÀN THẾ NHƠN!


          Mấy  hôm nay một số trang mạng đưa tin nhà văn Võ Phiến hoặc Tràng Thiên là bút danh của Thầy Ðoàn Thế Nhơn - nhà văn ở miền Nam trước năm 1975 đã qua đời vào lúc 7 giờ tối Thứ Hai 28 tháng 9 năm 2015, tại bang California - Hoa Kỳ, hưởng thọ 90 tuổi.
 CÁO PHÓ của gia đình nhà văn Võ Phiến (Đoàn Thế Nhơn)
       (Coi ở đây)
          Mặc dầu tùy bút và tạp văn  của ông đã được Nhà nước VN XHCN cho xuất bản 2 tác phẩm là Quê hương tôi Tạp văn Tràng Thiên, dưới bút hiệu Tràng Thiên, nhưng, theo báo “Nhân Dân”, “Cơ quan Trung ương của đảng Cộng sản Việt Nam, Tiếng nói của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam” thì “Văn nghiệp của Võ Phiến khá phức tạp …”.

          Kẻ  nói nầy, người nói khác, “bỉ viết thị, thử viết phi”, nhưng nói gì thì nói, ông vẫn là một nhà văn nổi danh, khá nhiều người biết tiếng. Đối với tôi, so với những người đồng trang lứa, là một trong số, có lẽ không nhiều, người biết đến ông sớm nhứt. Biết đến ông khi tôi vừa  6, 7 tuổi, tôi biết đến ông, không phải là một nhà văn mà là Thầy giáo Đoàn Thế Nhơn.

          Chuyện là như vầy. Tuy không phải là đích tôn của ông Cố, ông Nội, nhưng tôi là đứa cháu trai lớn nhứt nên gia đình rất quan tâm chăm sóc. Riêng việc học chữ, từ vỡ lòng đến lớp Tư (lớp 2 bây giờ) gia đình tự chỉ dạy và cho đến học ở nhà một ông giáo làng, cách nhà khoảng 200 mét, chớ không cho đến trường. Cho nên, khi biết đọc, biết viết, tôi chỉ được đọc sách báo có ở nhà. Được một cái, về báo thì Ba tôi đặt báo tháng, tờ nhựt báo (ở nhà kêu là “nhựt trình”) “Cách mạng Quốc gia”, hồi đó tôi không quan tâm gì đến tin tức, xã luận mà chỉ thích truyện “Phong Thần”, “Lỗ Bình Sơn” và truyện trinh thám của Phạm Cao Củng, ... Về tạp chí thì có tuần san (hay bán nguyệt san hoặc nguyệt san, tôi không nhớ chánh xác) “Hương quê”, với những truyện ngắn của Bình - nguyên Lộc, với những phóng sự về cuộc sống, sanh hoạt của đồng bào “Nam kỳ - Lục tỉnh” của Trường Cao Phong, … Về báo ảnh thì có “Thế giới tự do”, được phát không, do Ba tôi, nhờ làm công tác Thông tin mà có được,  đưa về, … Về  sách vở của Bác và Ba tôi để lại khá nhiều, đa phần là sách vở bằng  giấy “củ lang”, loại giấy sản xuất bằng thủ công, thô, nhám như “bánh tráng củ lang”, trong thời kháng chiến. Ấn tượng nhứt là mấy quyển vở học môn Quốc văn của Bác tôi có ghi “Thầy: Đoàn Thế Nhơn, Trò: Trần Minh Triết”. Tôi ấn tượng và còn nhớ mãi đến bây giờ là do ở đó có mấy bài bình giảng về tác phẩm “AQ Chính truyện của Lỗ Tấn”. Bây giờ biết rồi thì không thấy lạ chớ hồi đó AQ, một cái tên thấy rất là kỳ, tôi phải hỏi Ba tôi, được ông cho biết đó là tên của 1 tác phẩm của 1 ông nhà văn Ba Tàu.

          Đấy, tôi biết về Thầy giáo Đoàn Thế Nhơn là như vậy. Sau này mới biết thêm ông là công chức khi ông đảm nhận chức vụ Trưởng Ty Thông tin Bình Định lúc Ba tôi làm nhơn viên ngành Thông tin của Chánh quyền VNCH. Rồi sau nữa là “nhà văn”, là “gián điệp”, là “biệt kích”,… đến lúc nầy thì nhiều người biết nhiều và biết rõ hơn tôi rất nhiều! …

          Bây giờ, ông vừa qua đời thì người học trò học môn Quốc văn của ông, khi ông dạy học ở trường  Trung học Bình dân thời Việt Minh, là Bác tôi đã mãn phần hơn 4 năm!

          Xin được thắp một nén tâm nhang để kính vĩnh biệt Thầy Đoàn Thế Nhơn!
          Nguyện cho Hương linh Cụ Phật tử Pháp danh Nhật Trí được Vãng sanh về Phật quốc!



Thứ Bảy, ngày 19 tháng 9 năm 2015

TRONG LÒNG THÁP ĐÔI CÓ CÁI CỐI ĐÁ XAY BỘT GẠO!

     "MÀ SAU NÀY NGƯỜI KINH CŨNG SỬ DỤNG LOẠI CỐI NÀY ĐỂ XAY BỘT GẠO CHẾ BIẾN CÁC LOẠI BÁNH."
     Đó là nguyên văn, có kèm cả hình ảnh, để giới thiệu và quảng bá "khám phá sự độc đáo của Tháp Đôi tại Quy Nhơn - Bình Định - Việt Nam", phục vụ cho du lịch - thương mại, của ít nhứt 3 đơn vị truyền thông Thương mại - Du lịch trên internet.
     Đến mức nầy thì tui hết dám nhận xét, hay bình luận!
     Ai đời, nếu trí thức, hàn lâm, ... thì người ta kêu là bộ "biểu tượng Linga -Yoni"; còn dân dã mộc mạc như bọn tui thì kêu là "biểu tượng con chim - cái bướm" mà mấy nhà truyền thông quảng bá kia lại kêu là ở trong cái Tháp Đôi của người Chăm đó có "cái cối đá xay bột gạo" rồi "sau này người Kinh cũng sử dụng loại cối này để xay bột gạo chế biến các loại bánh."!!!
      Hình chụp từ Website Viejetair ở đây hoặc ở đây
 


















Hình chụp từ Webssite Dulich 24 ở đây 



















      Và dưới đây là "cái cối đá xay bột gạo để chế biến các loại bánh" do tui chụp tại Tháp Đôi - Qui Nhơn năm 2008:

   


Thứ Hai, ngày 31 tháng 8 năm 2015

DÂN LÀ NƯỚC.

      Cách nay ngót 45 năm. Thời còn mài đũng quần trên ghế nhà trường Trung học Đê Nhứt cấp, lần đầu tiên, tôi, với tư cách là “thuyết trình viên” cùng bạn Huỳnh Cẩm Đôn, với tư cách là “chủ tọa”, đại diện cho toán I, thuyết trình trước lớp và cả giáo sư - thầy Đỗ Công Tiếp - về tác phẩm “Đoạn tuyệt” của nhà văn Nhất Linh.

      Tôi vẫn còn nhớ như in đoạn: “Tiếng người gọi nhau ở dưới đồng đưa lên khiến Dũng nghĩ đến cái đời của dân quê, cái đời lạnh lẽo, vô vị kéo dài...”

      Chính bữa “Chiều hôm ấy, Dũng như cảm thấy tâm hồn của đất nước, mà biểu hiệu cho đất nước ấy không phải là những bậc vua chúa danh nhân, chính là đám dân hèn không tên không tuổi. Dân là nước. Yêu nước chính là yêu chung đám thường dân, nghĩ đến sự đau khổ của đám thường dân.”

      Rồi, cách nay hơn 3 tháng. Vào bữa trưa tròn bóng hôm 29/5/2015, nằm trên cánh võng, dưới bóng tàn cây bàng, của những người kiếm sống bằng công việc giữ xe ở khu du lịch Eo Gió - xã đảo Nhơn Lý cho nghỉ nhờ trong lúc chờ xe hơi đưa về lại Quy Nhơn, được trò chuyện với những đồng bào của mình, tôi càng thấm thía cái “thấy” và cái “nghĩ” của nhân vật Dũng:
 


Thứ Ba, ngày 04 tháng 8 năm 2015

NGƯỜI CHÀM TRONG MẮT TÔI

Vài lời "phi lộ":

     - Ngày 25/7/2015, trên "QuangTrung BinhKhe" có bài  "BÌNH CHIÊM KÝ" kể chuyện về Hoàng đế Lê thánh Tông "ngự giá bình Chiêm", một "ông vua hăm tám tuổi đeo gươm đi giữ nước";
     - Ngày 04/8/2015, trên Facebook của KTS Đinh Văn Quế qua bài thơ "THÀNH XƯA" có nhắc đến vài hoài niệm về "Thành Đồ Bàn xưa là kinh đô của Chàm";

           Khiến tui nhớ lại trên Blog của anh Nguyễn Ngọc Chính, ngày 12/8/2014, có bài "NGƯỜI CHÀM TRONG MẮT TÔI", nhắc đến những hoài niệm về người Chàm trong anh. Được sự đồng ý của anh, tui xin giới thiệu cùng mọi người:

Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ
Quay về xem non nước giống dân Chàm

(Chế Lan Viên)

           Ngoài tên gọi “Chàm” ta còn dùng các danh xưng như “Chăm”, “Hời”, “Chiêm Thành”… để chỉ một dân tộc đã từng có một quốc gia độc lập, hùng mạnh trong lịch sử, có nền văn hóa phát triển và là hậu duệ của các cư dân nền văn hóa Sa Huỳnh thời kì đồ sắt.

           Ngoài Việt Nam, người Chàm ngày nay còn tản mát đi các nước như Campuchia, Mã Lai, Thái Lan và Hoa Kỳ. Dân số tại Việt Nam theo điều tra năm 1999 là 132.873 người và theo tài liệu của Ủy ban Dân tộc năm 2008 là khoảng hơn 145.000 người, xếp thứ 14 về số lượng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

           Vấn đề đặt ra là giữa “Chàm” và “Chăm” thuật ngữ nào đúng? Thật ra thì từ năm 1979 người miền Nam mới thấy xuất hiện chữ “Chăm” từ chính quyền mới sau 30/4/1975. Trước đó, từ miền Trung trở vào Nam, chữ “Chàm” đã từng xuất hiện trong các địa danh, tên gọi cũng như danh từ riêng như Tháp Chàm, Cù Lao Chàm, giếng Chàm, vàng Chàm…

           Để chỉ người Chàm, người Việt tại miền Nam còn dùng những tên gọi như “Hời”, “Chiêm”, “Người đàng thổ” (khác với Người đàng quê là người Việt)… Theo một giải thích thì những chữ đó được dùng một cách “miệt thị” nhưng tôi thiết nghĩ đó là một nhận xét sai lệch, suy diễn bất hợp lý.

           Trước năm 1975 đã có những công trình học thuật như Từ điển Chàm – Việt – Pháp (của Cham Dohamide và Dorohiêm), Nguyễn Khắc Ngữ nghiên cứu về dân tộc học qua tác phẩm “Mẫu hệ Chàm” hoặc học giả Thiên Sanh Cảnh có một loạt bài về “Đám ma Chàm”… Rõ ràng là chữ Chàm ở đây không thể nào được dùng một cách “miệt thị” trong nghiên cứu.

           Lại nữa, một số tác giả người gốc Chàm đã dùng chữ Chàm hay Chiêm trong bút hiệu của mình như Khaly Chàm, Chiêm Nhân… Không lý nào các tác giả đó lại tự miệt thị mình! Nhưng một khi nhận xét về sự “miệt thị” này xuất phát từ những người “có quyền” thì nó trở thành một quyết định và ngành văn hóa chỉ biết gọi là Chăm thay vì Chàm như lúc trước.

           Trong bài viết “Tiếng Chăm của bạn” trên Tuyển tập Tagalau [1], Inrasara cho rằng: “Dù sao, quy định của Nhà nước vẫn phải được tuân thủ. Tuân thủ, nhưng nếu có ai dùng từ “Chàm” trong bài viết, nhất là khi có người viết đúng các tên gọi cũ như Trung tâm Văn hóa Chàm, Ma Lâm Chàm chẳng hạn, ta phải chấp nhận và không biên tập. Bởi sự thể không có gì sai hay miệt thị người Chàm cả”.

Tagalau 12: Tuyển tập Sáng tác – Sưu tầm
 – Nghiên cứu văn hóa Chàm

           Khi còn nhỏ, người Chàm trong mắt tôi là những ông “Hời” ngồi bán thuốc dạo bên cạnh những chiếc giỏ đặc biệt… kiểu Chàm. Họ là những người có vẻ “thần bí” với những câu tiếng Việt lơ lớ, một cách rao hàng vừa tức cười nhưng cũng không kém phần… đe dọa: “Này, ngồi xuống đây tôi coi bệnh cho, mặt của anh có bệnh rồi…”. Tôi sợ lắm nên không trả lời, vội bước đi mà không dám ngoảnh đầu trở lại.

           Lớn lên khi tìm hiểu thêm, người Chàm ở Ninh Thuận lại cùng quê hương với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu! Thêm một phát hiện khiến nhiều người phải ngạc nhiên, trong đó có tôi, về mối tương quan giữ chiếc áo dài của người Chàm và người Việt.

           Các nhà nghiên cứu cho thấy chiếc áo dài Việt Nam là sự tổng hợp từ chiếc áo dài của người Chàm và chiếc “xường xám” của Thượng Hải. Theo Bùi Minh Đức trong Từ điển tiếng Huế, NXB Văn Học, 2009:

           “Chiếc áo dài của đàn bà Việt Nam khởi phát từ thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (cuối thế kỷ XVIII) với nền tảng là chiếc áo dài phụ nữ Chàm, kết hợp với chiếc áo tứ thân ở Bắc… Áo dài hai vạt của đàn bà Huế có được là do ảnh hưởng Chàm…”

           Lê Quý Đôn viết: “Chúa Nguyễn Phúc Khoát hùng cứ ở xứ Đàng Trong, sau khi chiếm trọn nước Chiêm Thành, mở mang bờ cõi về phương Nam… Để chứng tỏ tinh thần độc lập, Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã chú trọng đến vấn đề cải cách xã hội, phong tục mà điều quan trọng là cải cách về y phục…”

           Lần tìm trong “Đại Nam thực lục tiền biên” ta bắt gặp đoạn văn sau đây: “Chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, ông đã triệu tập quần thần tìm phương thức xưng vương và dựng một tân đô. Ông đã thay đổi lễ nhạc, văn hóa và trang phục.

           Để thay đổi, phụ nữ miền Bắc mặc váy, phụ nữ miền Nam phải mặc quần có đáy (hai ống) giống đàn ông. Võ Vương đã gây ra một cuộc khủng hoảng về trang phục. Phụ nữ đã phản đối kịch liệt.
          
           Về sau Võ Vương không ưng ý với trang phục đó, Ngài giao cho triều thần nghiên cứu, tham khảo chiếc áo dài của người Chàm (giống hệt áo dài hiện nay nhưng không xẻ nách), và áo dài của phụ nữ Thượng Hải (xẻ đến đầu gối) để chế ra áo dài của phụ nữ miền Nam”.

            Do đó, những chiếc áo dài đầu tiên của người Việt giống như áo dài người Chàm và có xẻ tà. Vậy là chiếc áo dài Việt Nam ngày nay có đủ hai yếu tố văn hóa phương Bắc và phương Nam.
Chiếc áo dài của người Chàm

           Nói đến người Chàm là phải nói đến Chế Lan Viên [2], một hiện tượng thơ văn Việt Nam nhưng lại đậm nét Chàm với tập thơ Điêu tàn được xuất bản năm 1937. Bút hiệu Chế Lan Viên khiến người đọc thơ của ông liên tưởng đến Chế Bồng Nga, tên hiệu của vị vua thứ 3 thuộc vương triều thứ 12 (tức là vị vua đời thứ 39) của Chiêm Thành.

           Trong thời kỳ Chế Bồng Nga cầm quyền, đất nước Chiêm Thành rất hùng mạnh, từng đem quân nhiều lần xâm phạm Đại Việt của nhà Trần. Ông hy sinh năm 1390 khi tấn công Thăng Long lần thứ 4.

           Điểm đặc biệt ở chỗ Chế Lan Viên lại là một nhà thơ mang dòng họ Việt, Phan Ngọc Hoan, nhưng đã mượn hình ảnh của người Chàm để thể hiện một trường phái thơ mà ông gọi là Trường Thơ Loạn trong tập thơ Điêu tàn. Đặc biệt hơn nữa, khi xuất bản Điêu tàn, Chế Lan Viên chỉ mới 17 tuổi!

               “Ta hãy nghe, trong lòng bao đỉnh Tháp
               Tiếng thở than, lời oán trách cơ trời
               Ta hãy nghe, trong gạch Chàm rơi lác đác
               Tiếng máu Chàm ri rỉ chảy không thôi”
               (Chế Lan Viên – “Bóng tối” trong tập thơ Điêu tàn)

               “Bên cửa Tháp ngóng trông người Chiêm Nữ
               Ta vẩn vơ nhìn không khí bâng khuâng”

               (Chế Lan Viên, “Đợi người Chiêm nữ” trong tập thơ Điêu tàn)

               “Chiêm nương ơi, cười lên đi, em hỡi!
               Cho lòng anh quên một phút buồn lo!
               Nhìn chi em chân trời xa vòi vọi
               Nhớ chi em sầu hận nước Chàm ta?”

               (Chế Lan Viên, “Đêm tàn” trong tập thơ Điêu tàn)

               “Nước non Chàm chẳng bao giờ tiêu diệt
               Tháng ngày qua vẫn sống với đêm mờ”

               (Chế Lan Viên – “Bóng tối” trong tập thơ Điêu tàn)

               “Tháng ngày qua, gạch Chàm đua nhau rụng
               Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ!
              
               Tạo hóa hỡi! Hãy trả tôi về Chiêm quốc!
               Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian!”
               (Chế Lan Viên, “Những sợi tơ lòng” trong tập thơ Điêu tàn)

Chế Lan Viên (1920 – 1989)

           Thành Đồ Bàn là tên kinh đô của Chàm trong thời kỳ có quốc hiệu là Chiêm Thành. Thành Đồ Bàn, hay Vijaya, còn gọi là Thành cổ Chà Bàn hoặc thành Hoàng Đế, nay thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn và cách thành phố Qui Nhơn (tỉnh Bình Định) khoảng hơn 20km.

           Trong lãnh vực âm nhạc, nhạc sĩ Xuân Tiên đã để lại cho hậu thế một tác phẩm bất hủ mang tên Hận Đồ Bàn với những lời thống thiết của người dân Chàm:

               “Rừng hoang vu, vùi lấp chôn bao uất căm hận thù
               Ngàn gió ru, muôn tiếng vang trong tối tăm mịt mù
               Vạc kêu sương, buồn nhắc đây bao lúc xưa quật cường
               Đèn đóm vương, như bóng ai trong lúc đêm trường về…

           Trong kho tàng âm nhạc Việt Nam trước năm 1975 có rất ít những bản nhạc mang tính cách lịch sử của một dân tộc “vong quốc” với những ca từ diễn tả tỉ mỷ đến từng chi tiết như một bài thơ:

               “Rừng rậm cô tình, đèo cao thác sâu, đồi hoang suối reo hoang vắng cheo leo
               Ngàn muôn tiếng âm, tháng năm buồn ngân, âm thầm hòa bài hận vong quốc ca
               Người xưa đâu, mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu
               Lầu tháp đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu…”

               “Về kinh đô, ngàn thớt voi uy hiếp quân giặc thù
               Triệu sóng xô, muôn lớp quân Chiêm tiến như tràn bờ
               Tiệc liên hoan, nhạc tấu vang trên xứ thiêng Đồ Bàn
               Dạ yến ban, cung nữ dâng lên khúc ca về Chàm

               “Một thời oanh liệt người dân nước Chiêm lừng ghi chiến công vang khắp non sông
               Mộng kia dẫu tan cuốn theo thời gian nhưng hồn ngàn đời còn theo nước non
               Người xưa đâu, mộ đắp cao nay đã sâu thành hào
               Lầu các đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu…”


Kiến trúc và điêu khắc ở thân tháp Po Klaung Garai, thế kỷ 13

           Không một ca sĩ nào hát Hận Đồ Bàn "có hồn" bằng Chế Linh [3]. Lý do cũng dễ hiểu vì anh mang tâm sự của một người Chàm với tên thật là Chà Len (Jamlen) và tên Việt là Lưu Văn Liên. Anh ra đời năm 1942 tại làng Hamu Tanran thuộc Phan Rang, nay là tỉnh Ninh Thuận.

           Người ta biết nhiều đến Chế Linh qua dòng nhạc ca tụng những người lính trong quân lực VNCH mặc dù anh chẳng đi lính ngày nào vì thuộc dạng “miễn dịch” dành cho “dân tộc thiểu số”. Về dòng nhạc này, có người khó tính lại bảo Chế Linh thuộc thành phần… “lính chê”.

           Người thương thì nói rõ ràng là anh bị “lính chê” nên mới được “miễn dịch”, một số khác, trong đó có cả những người đang mặc áo lính, lại không ưa những ca từ anh ca tụng họ. Họ bảo những bài hát đó được trình bày theo phong cách… “sến”.

           Nhưng với Hận Đồ Bàn, mọi người đều có một nhận xét chung: bài hát đã đưa tên tuổi Chế Linh thâm nhập vào làng ca nhạc Việt Nam với tâm trạng của một người Chàm “vong quốc”. Chỉ tiếc một điều, những bài hát có tầm vóc như Hận Đồ Bàn rất hiếm trong nền ca nhạc nên Chế Linh phải bước sang một dòng nhạc gây nhiều tranh cãi [4].

           Người ca sĩ gốc Chàm, được gọi là “tài hoa” cũng có một đời tư thật… “hào hoa”: Chế Linh nổi tiếng là người có nhiều vợ con, tính cho đến năm 2007, anh đã có 4 vợ và 14 đứa con. Ta khám phá được nhiều điều về Chế Linh qua bài viết của Jaya Bahasa, “Mừng sinh nhật lần thứ 57 của chị Nguyễn Thị Thúy Hằng” trên trang web Inrasara [5].

           Vào giữa thập niên 1970 Chế Linh kết hôn với cô Nguyễn Thị Thúy Hằng (sinh ngày 1/12/1953, mất ngày 26/4/1974). Cuộc hôn nhân giữa một ca sĩ người gốc Chàm với một cô gái người Việt đã khiến giới báo chí Sài Gòn tốn khá nhiều giấy mực.

           Jaya Bahasa viết: “Như một định mệnh hai dân tộc, hạnh phúc này nhanh chóng đổ vỡ bởi những mù khơi mà không ai có thể biết được. Vì muốn minh chứng cho tình yêu của mình được sống mãi, chị Thuý Hằng quyết định quyên sinh bằng một liều thuốc ngủ mà luyến tiếc để lại hai đứa con trai thơ dại.
          
           Cái chết của Thuý Hằng đến quá đột ngột và bất ngờ, một lần nữa, cánh báo chí và giới nghệ sĩ Sài Gòn thêm bàn tán rôm rả. Nhưng không người nào biết được căn nguyên. Bởi chị không một lời nào trăn trối ngoài ba lá thư để lại cho gia đình.

            Lá thư thứ nhất viết cho người mẹ mà chị gọi bằng Mợ, xin tha thứ vì những lỗi lầm này và mong mợ hãy yêu thương đứa con của chị để được thấy chị qua hình ảnh đứa con. Lá thư thứ hai viết riêng cho hai đứa con yêu quý mà chị đặt tên là Sơn và Ca, một loài chim có giọng hót tuyệt vời. Lá thư thứ ba viết riêng cho ca sĩ Chế Linh, vài dòng ngắn ngủi với sự muộn màng và chỉ xin Chế Linh cho một nắm đất đắp lên mộ”.


Thúy Hằng và Chế Linh
(Ảnh trên trang web Inrasara) 

            Chuyện tình Chế Linh – Thúy Hằng với đoạn kết đầy nước mắt khiến người ta liên tưởng đến một chuyện tình vương giả trong lịch sử Việt-Chàm. Huyền Trân là một công chúa đời nhà Trần, con gái của vua Trần Nhân Tông. Năm 1306, Huyền Trân được gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô và Lý (từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay).

           Một năm sau đó, khi hoàng hậu người Đại Việt vừa sinh xong hoàng tử Chế Đa Đa, thì tháng 5/1307, quốc vương Chế Mân băng hà. Theo tục lệ nước Chiêm, khi vua chết hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn tang. Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân.

           Trần Khắc Chung bày kế thành công, cứu được Huyền Trân đưa xuống thuyền về Đại Việt bằng đường biển. Cuộc hải hành này kéo dài tới một năm (?) và theo “Đại Việt Sử ký Toàn thư” thì Trần Khắc Chung đã tư thông với công chúa.

           Theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, công chúa đầu gia Phật giáo ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh) vào năm 1309, dưới sự ấn chứng của quốc sư Bảo Phát. Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng.

            Trong dân gian, có lẽ vì thời đó người Việt coi người Chàm là dân tộc thấp kém, nên đã có câu:

           Tiếc thay cây quế giữa rừng
            Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo


Đền thờ Huyền Trân Công chúa          

            Nói đến lãnh vực âm nhạc của người Chàm như trường hợp của ca sĩ Chế Linh tôi lại nhớ đến nhạc sĩ Từ Công Phụng, vốn là bạn học năm Đệ Nhất tại trường Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Chúng tôi chỉ quen nhau trong một niên học nhưng có nhiều chuyện để nhớ khi tuổi tác ngày một cao.

           Từ Công Phụng ngày đó là một học sinh từ Ninh Thuận lên Đà Lạt học năm cuối trung học. Có lẽ anh là gốc người Chàm nên hình như luôn có một khoảng cách vô hình với đám học sinh chúng tôi. Anh “góp tiếng” tham gia ban nhạc nhà trường bằng giọng hát và chúng tôi rất ngạc nhiên khi nghe một giọng trầm, buồn và còn đặc biệt hơn nữa chỉ hát những bài “lạ”…

            Đó là hai bài “Bây giờ tháng mấy” và “Mùa thu mây ngàn” do chính anh sáng tác. Thật không ngờ, khi mới 16 tuổi anh đã tự học về âm nhạc qua một cuốn sách của Robert de Kers, viết bằng tiếng Pháp, với tựa đề “Harmonie et Orchestration”. Đến năm 17 tuổi anh đã có nhạc phẩm đầu tay “Bây giờ tháng mấy”…

            Hồi đó đang có cuộc thi tài giữa “trường Ta” là Trần Hưng Đạo và “trường Tây” của các sư huynh dòng La San là trường College d’Adran trên sân khấu thành phố Đà Lạt. Vì là trường Tây nên Adran chơi nhạc Beatles, đàn cũng là kiểu Beatles còn Trần Hưng Đạo chúng tôi khiêm tốn hơn, chơi đàn Fender theo các bản hòa tấu của The Shadows.

            Có thêm Từ Công Phụng “chuyên trị” nhạc Việt thể loại “tình cảm” trở thành… “hoa thơm cỏ lạ” trong chương trình văn nghệ. Thoạt đầu Từ Công Phụng “khớp” không dám lên sân khấu nhưng anh em trong ban nhạc cứ khen những bài “tự biên, tự diễn” của Phụng và bảo đảm là sẽ nổi bật trong đêm văn nghệ.

           Từ Công Phụng bỗng trở thành một hiện tượng tại Đà Lạt. Khán giả hoan nghênh nhiệt liệt đến độ Đài phát thanh Đà Lạt mời anh ghi âm để phổ biến qua làn sóng điện, tên tuổi của Từ Công Phụng được người Đà Lạt biết đến cùng với Lê Uyên Phương trong ban nhạc Ngàn Thông trên Đài phát thanh.

            Cuối năm Đệ Nhất ban nhạc của chúng tôi tản mát mỗi người một phương. Họ Từ về Sài Gòn và ngay sau đó nổi lên như một nhạc sĩ ăn khách cùng thời với Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn và Lê Uyên Phương.
           Sau 30/4/1975, các sáng tác của Từ Công Phụng bị cấm lưu hành tại Việt Nam và mãi cho đến năm 2003 mới được… “cởi trói”. Anh rời Việt Nam năm 1980 và định cư tại Portland, Oregon. Năm 1998, anh trở về thăm quê hương Ninh Thuận và năm 2008, anh trở lại với chương trình "45 năm tình ca Từ Công Phụng" tại một phòng trà có tiếng ở Sài Gòn.

            Nhạc sĩ kiêm ca sĩ Từ Công Phụng đã 2 lần vượt qua căn bệnh ung thư gan và ung thư túi mật nhưng vẫn mong đủ sức khỏe để sáng tác trong những ngày cuối đời. Với tình bạn học của buổi thiếu thời tôi chỉ mong anh sẽ sống mãi với chúng ta, chuyện sáng tác chỉ là vấn đề phụ vì những tác phẩm đã ra đời của anh đã là chứng nhân cho một nhạc sĩ tài hoa người Chàm.


Từ Công Phụng

           Hồi còn đi học tại Ban Mê Thuột, tôi có một vị giáo sư người gốc Chàm. Thầy Nguyễn Văn Tỷ, quê quán tại Ninh Chữ, một bãi biển thuộc thôn Bình Sơn, thị trấn Khánh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

           Tôi cùng thầy Bùi Dương Chi đã dẫn đoàn sinh viên Mỹ đến bãi biển Ninh Chữ được coi là một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Kết hợp với địa danh Bình Sơn, Ninh Chữ đã trở thành cụm du lịch Bình Sơn - Ninh Chữ đem lại diện mạo, thương hiệu và thu nhập cho tỉnh Ninh Thuận.

           Thầy Nguyễn Văn Tỷ đã về hưu và sinh sống tại Ninh Chữ. Ông trở thành một “nhân sĩ” trong làng và vẫn tiếp tục nghiên cứu văn hóa Chàm để truyền bá lại cho lớp trẻ người Chàm. Ông cũng là một cộng tác viên kỳ cựu của Tuyển tập Tagalau như đã nói ở trên.

           Tháng 10/2009 ông đến California để tham dự lễ Katê của cộng đồng người Việt gốc Chàm tại đây. Ông đã được mời phát biểu cảm tưởng tại buổi lễ. Theo ông, dân tộc Chàm muốn sống với nhau tốt, muốn tồn tại tốt cần thể hiện 3 yếu tố: Đoàn kết, Bảo tồn và Phát triển.

            Đối với người Chàm, đoàn kết được thì sẽ được tất cả, và không đoàn kết thì sẽ mất tất cả. Điều này mang ý nghĩa sau khi bị “vong quốc” sẽ lại phải “vong thân”.

           Người Chàm cần bảo tồn ngôn ngữ và chữ viết của mình, vì “tiếng Chàm còn thì người Chàm còn; tiếng Chàm mất thì người Chàm mất”.

            Nếu tồn tại được mà không phát triển thì chỉ “tồn tại như một dân tộc bần cùng”, “vùi dập trong cuộc sống lạc hậu, tối tăm”.

           Có lẽ đó cũng chính là lời kết của bài viết này về… “Người Chàm trong mắt tôi”.


Thánh địa Mỹ Sơn

***
Chú thích:

[1] Tagalau tiếng Chàm là cây bằng lăng hoa tím, mọc nhiều ở miền núi Ninh Thuận và Bình Thuận. Tuyển tập mang tên Tagalau vì nó tượng trưng cho tính dân dã, sức chịu đựng, sự khiêm tốn: nỗ lực nở hoa dù phải mọc trên mảnh đất nghèo cằn.
Tagalau là Tuyển tập chứ không phải là Tạp chí nên không ra định kỳ, mà chỉ được xuất bản khi tập hợp đủ bài vở. Số đầu tiên của Tuyển tập Tagalau ra mắt vào lễ Katê của người Chàm năm 2000.

[2] Chế Lan Viên (1920 – 1989), tên thật là Phan Ngọc Hoan, ra đời tại xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung rồi đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem Quy Nhơn, Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.
Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12 tuổi. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn". Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam.
Trước năm 1945, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng nghĩa "trường thơ loạn": Kinh dị, thần bí, bế tắc của thời Điêu tàn với xương, máu, sọ người, với những cảnh đổ nát của tháp Chàm. Những tháp Chàm "điêu tàn" là một nguồn cảm hứng lớn đáng chú ý của Chế Lan Viên. Qua những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị trong thơ Chế Lan Viên, ta thấy ẩn hiện hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son, cùng với nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ.
Phong cách thơ Chế Lan Viên rất rõ nét và độc đáo. Thơ ông là sức mạnh trí tuệ được biểu hiện trong khuynh hướng suy tưởng - triết lý, "chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa". Con gái ông, bà Phan Thị Vàng Anh, cũng là một nhà văn nổi tiếng.

[3] Hận Đồ Bàn do ca sĩ Chế Linh trình bày:

[4] Tham khảo về Chế Linh tại:

[5] Tham khảo trang web của Inrasara về chuyện Chế Linh và Nguyễn Thị Thúy Hằng: http://inrasara.com/2010/11/26/