“ 2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ.
3. Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để:
a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác,
b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội."
(Điều 19. Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, LHQ biểu quyết năm 1966, VN ký và tham gia ngày 24/9/1982).
Biết được sự thiệt tuy khó, nhưng còn khả dĩ; nói rõ được sự thiệt hầu như bất khả !"... ĐÃ XA RỒI CÁI THỜI MÀ AI NÓI RA ĐIỀU GÌ CŨNG SỢ BỊ PHÊ PHÁN MẤT LẬP TRƯỜNG, CẢ XÃ HỘI BỊ ÉP SỐNG TRONG CÁI VỎ ĐẠO ĐỨC GIẢ, TỪ TRÊN XUỐNG DƯỚI, NÓI THÌ RẤT HAY, NHƯNG LÀM THÌ NGƯỢC LẠI..." (GS Hoàng Tụy)
Suy gẫm hôm nay: "VẪN BIẾT SỐNG LÀ HƯỚNG ĐẾN TƯƠNG LAI, NHƯNG QUÁ KHỨ LÀ TẤM GƯƠNG NÊN SOI LẠI!"

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

NGƯỜI CHÀM TRONG MẮT TÔI

Vài lời "phi lộ":

     - Ngày 25/7/2015, trên "QuangTrung BinhKhe" có bài  "BÌNH CHIÊM KÝ" kể chuyện về Hoàng đế Lê thánh Tông "ngự giá bình Chiêm", một "ông vua hăm tám tuổi đeo gươm đi giữ nước";
     - Ngày 04/8/2015, trên Facebook của KTS Đinh Văn Quế qua bài thơ "THÀNH XƯA" có nhắc đến vài hoài niệm về "Thành Đồ Bàn xưa là kinh đô của Chàm";

           Khiến tui nhớ lại trên Blog của anh Nguyễn Ngọc Chính, ngày 12/8/2014, có bài "NGƯỜI CHÀM TRONG MẮT TÔI", nhắc đến những hoài niệm về người Chàm trong anh. Được sự đồng ý của anh, tui xin giới thiệu cùng mọi người:

Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ
Quay về xem non nước giống dân Chàm

(Chế Lan Viên)

           Ngoài tên gọi “Chàm” ta còn dùng các danh xưng như “Chăm”, “Hời”, “Chiêm Thành”… để chỉ một dân tộc đã từng có một quốc gia độc lập, hùng mạnh trong lịch sử, có nền văn hóa phát triển và là hậu duệ của các cư dân nền văn hóa Sa Huỳnh thời kì đồ sắt.

           Ngoài Việt Nam, người Chàm ngày nay còn tản mát đi các nước như Campuchia, Mã Lai, Thái Lan và Hoa Kỳ. Dân số tại Việt Nam theo điều tra năm 1999 là 132.873 người và theo tài liệu của Ủy ban Dân tộc năm 2008 là khoảng hơn 145.000 người, xếp thứ 14 về số lượng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

           Vấn đề đặt ra là giữa “Chàm” và “Chăm” thuật ngữ nào đúng? Thật ra thì từ năm 1979 người miền Nam mới thấy xuất hiện chữ “Chăm” từ chính quyền mới sau 30/4/1975. Trước đó, từ miền Trung trở vào Nam, chữ “Chàm” đã từng xuất hiện trong các địa danh, tên gọi cũng như danh từ riêng như Tháp Chàm, Cù Lao Chàm, giếng Chàm, vàng Chàm…

           Để chỉ người Chàm, người Việt tại miền Nam còn dùng những tên gọi như “Hời”, “Chiêm”, “Người đàng thổ” (khác với Người đàng quê là người Việt)… Theo một giải thích thì những chữ đó được dùng một cách “miệt thị” nhưng tôi thiết nghĩ đó là một nhận xét sai lệch, suy diễn bất hợp lý.

           Trước năm 1975 đã có những công trình học thuật như Từ điển Chàm – Việt – Pháp (của Cham Dohamide và Dorohiêm), Nguyễn Khắc Ngữ nghiên cứu về dân tộc học qua tác phẩm “Mẫu hệ Chàm” hoặc học giả Thiên Sanh Cảnh có một loạt bài về “Đám ma Chàm”… Rõ ràng là chữ Chàm ở đây không thể nào được dùng một cách “miệt thị” trong nghiên cứu.

           Lại nữa, một số tác giả người gốc Chàm đã dùng chữ Chàm hay Chiêm trong bút hiệu của mình như Khaly Chàm, Chiêm Nhân… Không lý nào các tác giả đó lại tự miệt thị mình! Nhưng một khi nhận xét về sự “miệt thị” này xuất phát từ những người “có quyền” thì nó trở thành một quyết định và ngành văn hóa chỉ biết gọi là Chăm thay vì Chàm như lúc trước.

           Trong bài viết “Tiếng Chăm của bạn” trên Tuyển tập Tagalau [1], Inrasara cho rằng: “Dù sao, quy định của Nhà nước vẫn phải được tuân thủ. Tuân thủ, nhưng nếu có ai dùng từ “Chàm” trong bài viết, nhất là khi có người viết đúng các tên gọi cũ như Trung tâm Văn hóa Chàm, Ma Lâm Chàm chẳng hạn, ta phải chấp nhận và không biên tập. Bởi sự thể không có gì sai hay miệt thị người Chàm cả”.

Tagalau 12: Tuyển tập Sáng tác – Sưu tầm
 – Nghiên cứu văn hóa Chàm

           Khi còn nhỏ, người Chàm trong mắt tôi là những ông “Hời” ngồi bán thuốc dạo bên cạnh những chiếc giỏ đặc biệt… kiểu Chàm. Họ là những người có vẻ “thần bí” với những câu tiếng Việt lơ lớ, một cách rao hàng vừa tức cười nhưng cũng không kém phần… đe dọa: “Này, ngồi xuống đây tôi coi bệnh cho, mặt của anh có bệnh rồi…”. Tôi sợ lắm nên không trả lời, vội bước đi mà không dám ngoảnh đầu trở lại.

           Lớn lên khi tìm hiểu thêm, người Chàm ở Ninh Thuận lại cùng quê hương với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu! Thêm một phát hiện khiến nhiều người phải ngạc nhiên, trong đó có tôi, về mối tương quan giữ chiếc áo dài của người Chàm và người Việt.

           Các nhà nghiên cứu cho thấy chiếc áo dài Việt Nam là sự tổng hợp từ chiếc áo dài của người Chàm và chiếc “xường xám” của Thượng Hải. Theo Bùi Minh Đức trong Từ điển tiếng Huế, NXB Văn Học, 2009:

           “Chiếc áo dài của đàn bà Việt Nam khởi phát từ thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (cuối thế kỷ XVIII) với nền tảng là chiếc áo dài phụ nữ Chàm, kết hợp với chiếc áo tứ thân ở Bắc… Áo dài hai vạt của đàn bà Huế có được là do ảnh hưởng Chàm…”

           Lê Quý Đôn viết: “Chúa Nguyễn Phúc Khoát hùng cứ ở xứ Đàng Trong, sau khi chiếm trọn nước Chiêm Thành, mở mang bờ cõi về phương Nam… Để chứng tỏ tinh thần độc lập, Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã chú trọng đến vấn đề cải cách xã hội, phong tục mà điều quan trọng là cải cách về y phục…”

           Lần tìm trong “Đại Nam thực lục tiền biên” ta bắt gặp đoạn văn sau đây: “Chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, ông đã triệu tập quần thần tìm phương thức xưng vương và dựng một tân đô. Ông đã thay đổi lễ nhạc, văn hóa và trang phục.

           Để thay đổi, phụ nữ miền Bắc mặc váy, phụ nữ miền Nam phải mặc quần có đáy (hai ống) giống đàn ông. Võ Vương đã gây ra một cuộc khủng hoảng về trang phục. Phụ nữ đã phản đối kịch liệt.
          
           Về sau Võ Vương không ưng ý với trang phục đó, Ngài giao cho triều thần nghiên cứu, tham khảo chiếc áo dài của người Chàm (giống hệt áo dài hiện nay nhưng không xẻ nách), và áo dài của phụ nữ Thượng Hải (xẻ đến đầu gối) để chế ra áo dài của phụ nữ miền Nam”.

            Do đó, những chiếc áo dài đầu tiên của người Việt giống như áo dài người Chàm và có xẻ tà. Vậy là chiếc áo dài Việt Nam ngày nay có đủ hai yếu tố văn hóa phương Bắc và phương Nam.
Chiếc áo dài của người Chàm

           Nói đến người Chàm là phải nói đến Chế Lan Viên [2], một hiện tượng thơ văn Việt Nam nhưng lại đậm nét Chàm với tập thơ Điêu tàn được xuất bản năm 1937. Bút hiệu Chế Lan Viên khiến người đọc thơ của ông liên tưởng đến Chế Bồng Nga, tên hiệu của vị vua thứ 3 thuộc vương triều thứ 12 (tức là vị vua đời thứ 39) của Chiêm Thành.

           Trong thời kỳ Chế Bồng Nga cầm quyền, đất nước Chiêm Thành rất hùng mạnh, từng đem quân nhiều lần xâm phạm Đại Việt của nhà Trần. Ông hy sinh năm 1390 khi tấn công Thăng Long lần thứ 4.

           Điểm đặc biệt ở chỗ Chế Lan Viên lại là một nhà thơ mang dòng họ Việt, Phan Ngọc Hoan, nhưng đã mượn hình ảnh của người Chàm để thể hiện một trường phái thơ mà ông gọi là Trường Thơ Loạn trong tập thơ Điêu tàn. Đặc biệt hơn nữa, khi xuất bản Điêu tàn, Chế Lan Viên chỉ mới 17 tuổi!

               “Ta hãy nghe, trong lòng bao đỉnh Tháp
               Tiếng thở than, lời oán trách cơ trời
               Ta hãy nghe, trong gạch Chàm rơi lác đác
               Tiếng máu Chàm ri rỉ chảy không thôi”
               (Chế Lan Viên – “Bóng tối” trong tập thơ Điêu tàn)

               “Bên cửa Tháp ngóng trông người Chiêm Nữ
               Ta vẩn vơ nhìn không khí bâng khuâng”

               (Chế Lan Viên, “Đợi người Chiêm nữ” trong tập thơ Điêu tàn)

               “Chiêm nương ơi, cười lên đi, em hỡi!
               Cho lòng anh quên một phút buồn lo!
               Nhìn chi em chân trời xa vòi vọi
               Nhớ chi em sầu hận nước Chàm ta?”

               (Chế Lan Viên, “Đêm tàn” trong tập thơ Điêu tàn)

               “Nước non Chàm chẳng bao giờ tiêu diệt
               Tháng ngày qua vẫn sống với đêm mờ”

               (Chế Lan Viên – “Bóng tối” trong tập thơ Điêu tàn)

               “Tháng ngày qua, gạch Chàm đua nhau rụng
               Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ!
               …
               Tạo hóa hỡi! Hãy trả tôi về Chiêm quốc!
               Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian!”
               (Chế Lan Viên, “Những sợi tơ lòng” trong tập thơ Điêu tàn)

Chế Lan Viên (1920 – 1989)

           Thành Đồ Bàn là tên kinh đô của Chàm trong thời kỳ có quốc hiệu là Chiêm Thành. Thành Đồ Bàn, hay Vijaya, còn gọi là Thành cổ Chà Bàn hoặc thành Hoàng Đế, nay thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn và cách thành phố Qui Nhơn (tỉnh Bình Định) khoảng hơn 20km.

           Trong lãnh vực âm nhạc, nhạc sĩ Xuân Tiên đã để lại cho hậu thế một tác phẩm bất hủ mang tên Hận Đồ Bàn với những lời thống thiết của người dân Chàm:

               “Rừng hoang vu, vùi lấp chôn bao uất căm hận thù
               Ngàn gió ru, muôn tiếng vang trong tối tăm mịt mù
               Vạc kêu sương, buồn nhắc đây bao lúc xưa quật cường
               Đèn đóm vương, như bóng ai trong lúc đêm trường về…

           Trong kho tàng âm nhạc Việt Nam trước năm 1975 có rất ít những bản nhạc mang tính cách lịch sử của một dân tộc “vong quốc” với những ca từ diễn tả tỉ mỷ đến từng chi tiết như một bài thơ:

               “Rừng rậm cô tình, đèo cao thác sâu, đồi hoang suối reo hoang vắng cheo leo
               Ngàn muôn tiếng âm, tháng năm buồn ngân, âm thầm hòa bài hận vong quốc ca
               Người xưa đâu, mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu
               Lầu tháp đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu…”

               “Về kinh đô, ngàn thớt voi uy hiếp quân giặc thù
               Triệu sóng xô, muôn lớp quân Chiêm tiến như tràn bờ
               Tiệc liên hoan, nhạc tấu vang trên xứ thiêng Đồ Bàn
               Dạ yến ban, cung nữ dâng lên khúc ca về Chàm

               “Một thời oanh liệt người dân nước Chiêm lừng ghi chiến công vang khắp non sông
               Mộng kia dẫu tan cuốn theo thời gian nhưng hồn ngàn đời còn theo nước non
               Người xưa đâu, mộ đắp cao nay đã sâu thành hào
               Lầu các đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu…”


Kiến trúc và điêu khắc ở thân tháp Po Klaung Garai, thế kỷ 13

           Không một ca sĩ nào hát Hận Đồ Bàn "có hồn" bằng Chế Linh [3]. Lý do cũng dễ hiểu vì anh mang tâm sự của một người Chàm với tên thật là Chà Len (Jamlen) và tên Việt là Lưu Văn Liên. Anh ra đời năm 1942 tại làng Hamu Tanran thuộc Phan Rang, nay là tỉnh Ninh Thuận.

           Người ta biết nhiều đến Chế Linh qua dòng nhạc ca tụng những người lính trong quân lực VNCH mặc dù anh chẳng đi lính ngày nào vì thuộc dạng “miễn dịch” dành cho “dân tộc thiểu số”. Về dòng nhạc này, có người khó tính lại bảo Chế Linh thuộc thành phần… “lính chê”.

           Người thương thì nói rõ ràng là anh bị “lính chê” nên mới được “miễn dịch”, một số khác, trong đó có cả những người đang mặc áo lính, lại không ưa những ca từ anh ca tụng họ. Họ bảo những bài hát đó được trình bày theo phong cách… “sến”.

           Nhưng với Hận Đồ Bàn, mọi người đều có một nhận xét chung: bài hát đã đưa tên tuổi Chế Linh thâm nhập vào làng ca nhạc Việt Nam với tâm trạng của một người Chàm “vong quốc”. Chỉ tiếc một điều, những bài hát có tầm vóc như Hận Đồ Bàn rất hiếm trong nền ca nhạc nên Chế Linh phải bước sang một dòng nhạc gây nhiều tranh cãi [4].

           Người ca sĩ gốc Chàm, được gọi là “tài hoa” cũng có một đời tư thật… “hào hoa”: Chế Linh nổi tiếng là người có nhiều vợ con, tính cho đến năm 2007, anh đã có 4 vợ và 14 đứa con. Ta khám phá được nhiều điều về Chế Linh qua bài viết của Jaya Bahasa, “Mừng sinh nhật lần thứ 57 của chị Nguyễn Thị Thúy Hằng” trên trang web Inrasara [5].

           Vào giữa thập niên 1970 Chế Linh kết hôn với cô Nguyễn Thị Thúy Hằng (sinh ngày 1/12/1953, mất ngày 26/4/1974). Cuộc hôn nhân giữa một ca sĩ người gốc Chàm với một cô gái người Việt đã khiến giới báo chí Sài Gòn tốn khá nhiều giấy mực.

           Jaya Bahasa viết: “Như một định mệnh hai dân tộc, hạnh phúc này nhanh chóng đổ vỡ bởi những mù khơi mà không ai có thể biết được. Vì muốn minh chứng cho tình yêu của mình được sống mãi, chị Thuý Hằng quyết định quyên sinh bằng một liều thuốc ngủ mà luyến tiếc để lại hai đứa con trai thơ dại.
          
           Cái chết của Thuý Hằng đến quá đột ngột và bất ngờ, một lần nữa, cánh báo chí và giới nghệ sĩ Sài Gòn thêm bàn tán rôm rả. Nhưng không người nào biết được căn nguyên. Bởi chị không một lời nào trăn trối ngoài ba lá thư để lại cho gia đình.

            Lá thư thứ nhất viết cho người mẹ mà chị gọi bằng Mợ, xin tha thứ vì những lỗi lầm này và mong mợ hãy yêu thương đứa con của chị để được thấy chị qua hình ảnh đứa con. Lá thư thứ hai viết riêng cho hai đứa con yêu quý mà chị đặt tên là Sơn và Ca, một loài chim có giọng hót tuyệt vời. Lá thư thứ ba viết riêng cho ca sĩ Chế Linh, vài dòng ngắn ngủi với sự muộn màng và chỉ xin Chế Linh cho một nắm đất đắp lên mộ”.


Thúy Hằng và Chế Linh
(Ảnh trên trang web Inrasara) 

            Chuyện tình Chế Linh – Thúy Hằng với đoạn kết đầy nước mắt khiến người ta liên tưởng đến một chuyện tình vương giả trong lịch sử Việt-Chàm. Huyền Trân là một công chúa đời nhà Trần, con gái của vua Trần Nhân Tông. Năm 1306, Huyền Trân được gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô và Lý (từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay).

           Một năm sau đó, khi hoàng hậu người Đại Việt vừa sinh xong hoàng tử Chế Đa Đa, thì tháng 5/1307, quốc vương Chế Mân băng hà. Theo tục lệ nước Chiêm, khi vua chết hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn tang. Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân.

           Trần Khắc Chung bày kế thành công, cứu được Huyền Trân đưa xuống thuyền về Đại Việt bằng đường biển. Cuộc hải hành này kéo dài tới một năm (?) và theo “Đại Việt Sử ký Toàn thư” thì Trần Khắc Chung đã tư thông với công chúa.

           Theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, công chúa đầu gia Phật giáo ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh) vào năm 1309, dưới sự ấn chứng của quốc sư Bảo Phát. Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng.

            Trong dân gian, có lẽ vì thời đó người Việt coi người Chàm là dân tộc thấp kém, nên đã có câu:

           Tiếc thay cây quế giữa rừng
            Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo


Đền thờ Huyền Trân Công chúa          

            Nói đến lãnh vực âm nhạc của người Chàm như trường hợp của ca sĩ Chế Linh tôi lại nhớ đến nhạc sĩ Từ Công Phụng, vốn là bạn học năm Đệ Nhất tại trường Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Chúng tôi chỉ quen nhau trong một niên học nhưng có nhiều chuyện để nhớ khi tuổi tác ngày một cao.

           Từ Công Phụng ngày đó là một học sinh từ Ninh Thuận lên Đà Lạt học năm cuối trung học. Có lẽ anh là gốc người Chàm nên hình như luôn có một khoảng cách vô hình với đám học sinh chúng tôi. Anh “góp tiếng” tham gia ban nhạc nhà trường bằng giọng hát và chúng tôi rất ngạc nhiên khi nghe một giọng trầm, buồn và còn đặc biệt hơn nữa chỉ hát những bài “lạ”…

            Đó là hai bài “Bây giờ tháng mấy” và “Mùa thu mây ngàn” do chính anh sáng tác. Thật không ngờ, khi mới 16 tuổi anh đã tự học về âm nhạc qua một cuốn sách của Robert de Kers, viết bằng tiếng Pháp, với tựa đề “Harmonie et Orchestration”. Đến năm 17 tuổi anh đã có nhạc phẩm đầu tay “Bây giờ tháng mấy”…

            Hồi đó đang có cuộc thi tài giữa “trường Ta” là Trần Hưng Đạo và “trường Tây” của các sư huynh dòng La San là trường College d’Adran trên sân khấu thành phố Đà Lạt. Vì là trường Tây nên Adran chơi nhạc Beatles, đàn cũng là kiểu Beatles còn Trần Hưng Đạo chúng tôi khiêm tốn hơn, chơi đàn Fender theo các bản hòa tấu của The Shadows.

            Có thêm Từ Công Phụng “chuyên trị” nhạc Việt thể loại “tình cảm” trở thành… “hoa thơm cỏ lạ” trong chương trình văn nghệ. Thoạt đầu Từ Công Phụng “khớp” không dám lên sân khấu nhưng anh em trong ban nhạc cứ khen những bài “tự biên, tự diễn” của Phụng và bảo đảm là sẽ nổi bật trong đêm văn nghệ.

           Từ Công Phụng bỗng trở thành một hiện tượng tại Đà Lạt. Khán giả hoan nghênh nhiệt liệt đến độ Đài phát thanh Đà Lạt mời anh ghi âm để phổ biến qua làn sóng điện, tên tuổi của Từ Công Phụng được người Đà Lạt biết đến cùng với Lê Uyên Phương trong ban nhạc Ngàn Thông trên Đài phát thanh.

            Cuối năm Đệ Nhất ban nhạc của chúng tôi tản mát mỗi người một phương. Họ Từ về Sài Gòn và ngay sau đó nổi lên như một nhạc sĩ ăn khách cùng thời với Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn và Lê Uyên Phương.
           Sau 30/4/1975, các sáng tác của Từ Công Phụng bị cấm lưu hành tại Việt Nam và mãi cho đến năm 2003 mới được… “cởi trói”. Anh rời Việt Nam năm 1980 và định cư tại Portland, Oregon. Năm 1998, anh trở về thăm quê hương Ninh Thuận và năm 2008, anh trở lại với chương trình "45 năm tình ca Từ Công Phụng" tại một phòng trà có tiếng ở Sài Gòn.

            Nhạc sĩ kiêm ca sĩ Từ Công Phụng đã 2 lần vượt qua căn bệnh ung thư gan và ung thư túi mật nhưng vẫn mong đủ sức khỏe để sáng tác trong những ngày cuối đời. Với tình bạn học của buổi thiếu thời tôi chỉ mong anh sẽ sống mãi với chúng ta, chuyện sáng tác chỉ là vấn đề phụ vì những tác phẩm đã ra đời của anh đã là chứng nhân cho một nhạc sĩ tài hoa người Chàm.


Từ Công Phụng

           Hồi còn đi học tại Ban Mê Thuột, tôi có một vị giáo sư người gốc Chàm. Thầy Nguyễn Văn Tỷ, quê quán tại Ninh Chữ, một bãi biển thuộc thôn Bình Sơn, thị trấn Khánh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

           Tôi cùng thầy Bùi Dương Chi đã dẫn đoàn sinh viên Mỹ đến bãi biển Ninh Chữ được coi là một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Kết hợp với địa danh Bình Sơn, Ninh Chữ đã trở thành cụm du lịch Bình Sơn - Ninh Chữ đem lại diện mạo, thương hiệu và thu nhập cho tỉnh Ninh Thuận.

           Thầy Nguyễn Văn Tỷ đã về hưu và sinh sống tại Ninh Chữ. Ông trở thành một “nhân sĩ” trong làng và vẫn tiếp tục nghiên cứu văn hóa Chàm để truyền bá lại cho lớp trẻ người Chàm. Ông cũng là một cộng tác viên kỳ cựu của Tuyển tập Tagalau như đã nói ở trên.

           Tháng 10/2009 ông đến California để tham dự lễ Katê của cộng đồng người Việt gốc Chàm tại đây. Ông đã được mời phát biểu cảm tưởng tại buổi lễ. Theo ông, dân tộc Chàm muốn sống với nhau tốt, muốn tồn tại tốt cần thể hiện 3 yếu tố: Đoàn kết, Bảo tồn và Phát triển.

            Đối với người Chàm, đoàn kết được thì sẽ được tất cả, và không đoàn kết thì sẽ mất tất cả. Điều này mang ý nghĩa sau khi bị “vong quốc” sẽ lại phải “vong thân”.

           Người Chàm cần bảo tồn ngôn ngữ và chữ viết của mình, vì “tiếng Chàm còn thì người Chàm còn; tiếng Chàm mất thì người Chàm mất”.

            Nếu tồn tại được mà không phát triển thì chỉ “tồn tại như một dân tộc bần cùng”, “vùi dập trong cuộc sống lạc hậu, tối tăm”.

           Có lẽ đó cũng chính là lời kết của bài viết này về… “Người Chàm trong mắt tôi”.


Thánh địa Mỹ Sơn

***
Chú thích:

[1] Tagalau tiếng Chàm là cây bằng lăng hoa tím, mọc nhiều ở miền núi Ninh Thuận và Bình Thuận. Tuyển tập mang tên Tagalau vì nó tượng trưng cho tính dân dã, sức chịu đựng, sự khiêm tốn: nỗ lực nở hoa dù phải mọc trên mảnh đất nghèo cằn.
Tagalau là Tuyển tập chứ không phải là Tạp chí nên không ra định kỳ, mà chỉ được xuất bản khi tập hợp đủ bài vở. Số đầu tiên của Tuyển tập Tagalau ra mắt vào lễ Katê của người Chàm năm 2000.

[2] Chế Lan Viên (1920 – 1989), tên thật là Phan Ngọc Hoan, ra đời tại xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung rồi đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem Quy Nhơn, Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.
Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12 tuổi. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn". Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam.
Trước năm 1945, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng nghĩa "trường thơ loạn": Kinh dị, thần bí, bế tắc của thời Điêu tàn với xương, máu, sọ người, với những cảnh đổ nát của tháp Chàm. Những tháp Chàm "điêu tàn" là một nguồn cảm hứng lớn đáng chú ý của Chế Lan Viên. Qua những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị trong thơ Chế Lan Viên, ta thấy ẩn hiện hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son, cùng với nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ.
Phong cách thơ Chế Lan Viên rất rõ nét và độc đáo. Thơ ông là sức mạnh trí tuệ được biểu hiện trong khuynh hướng suy tưởng - triết lý, "chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa". Con gái ông, bà Phan Thị Vàng Anh, cũng là một nhà văn nổi tiếng.

[3] Hận Đồ Bàn do ca sĩ Chế Linh trình bày:

[4] Tham khảo về Chế Linh tại:

[5] Tham khảo trang web của Inrasara về chuyện Chế Linh và Nguyễn Thị Thúy Hằng: http://inrasara.com/2010/11/26/






Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2015

”CÁN” khác với “CHÈN” như thế nào?

         Sáng ngày 10/7/2015 tại huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương, “MỘT VIỆC ĐÁNG TIẾC NGOÀI SỰ CHỈ ĐẠO CỦA UBND TỈNH” (lời của đ/c Nguyễn Mạnh Hiển, Chủ tịch UBND tỉnh, ở đây) mà hầu hết báo chí của Nhà nước ta đều đưa tin là có “MỘT PHỤ NỮ BỊ MÁY XÚC CHÈN QUA NGƯỜI" (ở đây , ở đây , hoặc ở đây);

          Tôi cho rằng việc báo chí dùng động từ “CHÈN” như vậy là trật lất, rất trật, mà phải là “CÁN” mới đúng (ở đây ). Nếu là "CHÈN" thì phải là "NGƯỜI CHÈN MÁY" (Tỉ như "lấy thân chèn pháo" vậy), còn "MÁY" thì phải là "MÁY CÁN NGƯỜI". Nhưng có người (trong đó có nhà báo Lưu Nguyễn) cho rằng tôi trật và yêu cầu tôi giải thích. Tôi xin được giải thích như sau:

          Theo hầu hết các tự điển tiếng Việt thì:

      - Động tự CHÈN: 
Đưa thêm một vật gì đó vào khe hở để giữ chặt lại ở một vị trí cố định
          chèn bánh xe          chèn cửa cẩn thận           
Cản lại, ngáng lại, không cho vượt lên
         xe trước chèn không cho xe sau vượt lên
         cầu thủ chèn bóng trái phép  
Đưa thêm kí tự hoặc hình ảnh xen vào một vị trí nào đó của văn bản được soạn thảo trên máy tính
         chèn thêm một vài kí tự vào giữa văn bản          chèn hình ảnh vào cuối trang

     - Động tự CÁN:  
Ép cho mỏng đều bằng trục lăn
         cán bột làm bánh          kĩ thuật cán thép
(Tàu, Xe) lăn đè lên trên người hoặc động vật
         bị xe cán chết

          Như vậy thì mọi người thấy trong trường hợp trên dùng động tự “CHÈN” là hoàn toàn sai; trừ khi các đồng chí nhà báo của ta COI CON NGƯỜI CHÚNG TA LÀ CÁI VẬT DÙNG ĐỂ CHÈN BÁNH HAY XÍCH XE, XÍCH MÁY thì không kể, nhưng trong trường họp nầy thì cái “CHÈN” là DANH TỰ:

      - Danh tự CHÈN:
Vật dùng để chèn bánh xe, thường làm bằng gỗ, hình trụ, đáy tam giác
         chuẩn bị sẵn chèn khi xe lên dốc 
Thanh hoặc tấm thường bằng gỗ hoặc bê tông cốt thép, dùng để chêm vào khoảng trống giữa vì chống và chu vi đào ban đầu của hầm lò.

P/s: Nếu cán là một danh tự thì nó có nghĩa như sau:
      - Danh tự CÁN :
Bộ phận dùng để cầm, nắm ở một số dụng cụ, đồ vật, thường có hình trụ
        cán cuốc         cán dao         cán cờ

Coi Video clip ghi lại hình ảnh sự việc
để biết là "CÁN" hay "CHÈN"



Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014

Cũng lại chờ đón con!

          Hơn mười lăm năm về trước, Mẹ chờ con tan học ở cổng trường để đón đưa con zìa nhà ... Trong Mẹ bao nhiêu viễn cảnh tươi đẹp như mơ!

          Bây giờ, Mẹ cũng chờ, cũng đợi,... cũng ở trước cổng, nhưng là cổng sở làm của con để chờ con tan sở.

          Mẹ ngẫm nghĩ điều gì mà đăm chiêu thế kia?
    
          Phải chăng,... ? Mẹ trầm ngâm nghĩ về nỗi nhọc nhằn của con trong môi trường nhộn nhịp đầy khói bụi khi nhìn dòng người cùng xe cộ tất tả ngược xuôi, chen chúc, tranh lấn nhau lên tận hè đường:
    
          Phải chăng,... ? Mẹ bồn chồn, ngồi đứng không yên khi đường phố đã lên đèn mà vẫn chưa thấy bóng dáng con:
        

          Rồi... Mẹ cũng reo vui được khi đồng sự của con ra về trông thấy và chào mừng Mẹ!
       
         Rồi... Con cũng đã rời sở làm, đưa Tía Mẹ về, rồi cả nhà cùng đi ăn crème Nhựt Bổn:




Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

Bạn học của cha rồi lại bạn học của con!

     Tuần qua phải đi dự lớp update kiến thức "Bồi dưỡng kỹ năng dạy học". Là học viên "cao tuổi nhứt" - cái này ngày trước kêu bằng "cao niên nhứt", được làm bạn học, mà về niên kỷ, những bạn ấy  thuộc hàng các em, các cháu.
      Rất thú vị là trong số "bạn học xuân xanh ấy" có một bạn, nữ đứng thứ 3 từ trái sang (hình trên), mà 47 năm trước mình từng là bạn học với thân phụ của cô ấy, người đầu tiên bên trái (hình dưới).
      Một điều thú vị nữa là mươi năm trở lại đây, khi đi học mình luôn được "phong" là "người hiếu học" và là "học viên cao tuổi nhứt":
      P/s: Nhắn gởi các bạn lớp Bồi dưỡng kỹ năng dạy học, các bạn có thể coi trực tiếp trên net hoặc tải về PC:

A./ Các video clip về lớp học:
        I./ Toàn cảnh buổi lễ bế giảng: Click vô đây
       II./ Các tiết thao giảng trình diễn kỹ năng dạy học: 1: ở đây. 2: ở đây.  3: ở đây.  4: ở đây.  5: ở đây.     6: ở đây.  7: ở đây.  8: ở đây.  9: ở đây.  10: ở đây.   11: ở đây.  12: ở đây.  13: ở đây. 
B./ Các hình ảnh về lớp học:   Click vô đây


Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

Tàn dư "văn hóa nô dịch, đồi trụy và phản động"!

      Sau bao "chiến dịch bài trừ văn hóa nô dịch, đồi trụy và phản động", tôi đã hưởng ứng và tham gia thực hiện một cách quyết liệt và triệt để bằng cách tập trung tất cả các loại sách vở, là tàn dư của thời Mỹ-Ngụy, từ tiểu thuyết, biên khảo cho đến sách giáo khoa để đốt cho bằng hết.
     Những tưởng như vậy đã quét sạch rồi. Nhưng, quả đúng như ông bà ta đã dạy: "Bói ra ma, quét nhà ra rác", tuần rồi, dọn dẹp lại đống sách vở cũ thì thấy vẫn còn sót lại mấy cuốn. Chúng nó đây nè:
     Mấy chục năm về trước, Phan Trường Nghị, thằng bạn học từ thời còn "để chỏm",  kể chuyện hồi mới được giải phóng, có ông cán bộ văn hóa ở Miền Bắc XHCN về, nghe nó có mấy tập thơ thời tiền chiến của các thi sĩ đang sống, làm việc và công tác ngoài đó, nhưng ở ngoãi không cho xuất bản nên đến gặp nó để mượn đọc. Được nó cho mượn, ổng mừng lắm. Tôi không tin là thiệt mà cho đó là một bài kiểm tra về sự cải tạo nhận thức tư tưởng và giác ngộ của thanh niên vùng mới giải phóng, nên tôi đã khuyên nó nên biếu hẳn cho ổng hoặc lấy về mà đốt đi.

     Bởi vậy, mặc dầu cũng thấy tiên tiếc mấy cái "tàn dư" trên nhưng tôi vẫn quyết tâm đem đi đốt bằng hết. Có điều trước khi "hỏa táng" có chụp lại mấy tấm hình để gọi là làm kỷ niệm và chứng tích về sự giác ngộ triệt để của mình!

      P/s: Hình ảnh về chiến dịch "bài trừ văn hóa nô dịch, đồi trụy và phản động" ở Sài Gòn sau ngày Miền Nam được giải phóng:



Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

Nụ cười "kiên trung, bất khuất" của bị cáo trước tòa án!

1./ Original 04/08/2010:     Hiên ngang và tươi cười trước án tử hình 
      Đồng chí Nguyễn Văn Khỏe, cựu Phó Bí thư huyện ủy kiêm Chủ tịch UBND huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh bị truy tố với ba tội danh: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, “Nhận hối lộ”, “Lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi” với số tiền nhận hối lộ lên đến 1,4 tỷ đồng và 5.000 USD và khung hình phạt cao nhất lên đến tử hình. Nhưng vẫn:
a./ Tươi cười thoải mái khi đến và ra khỏi phòng xử án:
b./ Hiên ngang (giữ được tác phong của 1 người lãnh đạo) trước vành móng ngựa, khi trả lời thẩm vấn:
Vài nét về "thân thế và sự nghiệp" của đồng chí Nguyễn Văn Khỏe:

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

NHÂN XƯNG ĐẠI DANH TỪ "đồng chí" ĐÃ TRỞ THÀNH "THÂM CĂN CỐ ĐẾ"!

     Chuyện là như vầy. Số là trên album ảnh “Đền thờ Nguyễn Trung Trực (TP.Rạch Giá, Kiên Giang)“ của Khổng Xuân Hiền trên FB, tôi có cái comment: “...Ngày 14/7/2013, đồng chí Nguyễn Văn Thiện, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định đã đến thăm và khảo sát ...”

     Vậy là tôi liên tiếp nhận được nhiều cuộc gọi điện thoại từ bạn bè, thân hữu: “Quã! mầy đứng vào đội tiên phong của giai cấp công nhân, đội ngũ những người lãnh đạo Nhà nước, Nhân dân và Xã hội ta hồi nào vậy”. Tôi rất ngạc nhiên (tuy thực tế chưa được vậy nhưng cũng rất mừng trong bụng) hỏi lại căn cớ thì được các bạn trả lời là do thấy tôi kêu ông Nguyễn Văn Thiện, Ủy viên BCH TƯ Đảng ta, Bí thư tỉnh ủy Tỉnh ta là đồng chí ở cái comment nói trên!

     Thì ra là như vậy. Còn may là tôi chưa “ghi tâm, khắc cốt” đến độ gọi anh hùng Nguyễn Trung Trực là đồng chí như một đồng chí nào đó đã khắc vô bia đá “đồng chí Ngô Thì Nhậm”!

     Quả thiệt, cái đại danh từ "đồng chí" nó trở thành "thâm căn cố đế" ở gần như tuyệt đại đa số cán bộ công chức, viên chức Nhà nước Việt Nam XHCN. Mặc dù tôi làm việc trong bộ máy nhà nước chỉ 18 năm và đã nghỉ việc rời khỏi bộ máy này những 20 năm; mặc dù tôi chưa bao giờ được đứng trong hàng ngũ đồng chí của những đồng chí cán bộ Đảng và Nhà nước ta; ấy vậy mà khi đề cập đến quý vị ấy, một cách tự nhiên như một phản xạ, tôi đều dùng nhân vật đại danh từ “đồng chí” thay vì “ông” hoặc “ngài”. Gần 20 năm tu dưỡng, học tập và rèn luyện: “Ăn có thể như nhà tu, ở có thể như ở tù, nhưng nói thì quyết phải theo như lãnh đạo” nó đã có kết quả như thế!

     Dưới đây là vài hình ảnh của một thời từng "điều khiển" và từng là "diễn giả" trên mấy "diễn đàn hội nghị" đã góp phần tạo nên sự "ghi tâm, khắc cốt" cái nhân xưng đại danh từ "đáng yêu" nói trên.
Lúc điều khiển hội nghị (năm 1990)
Khi là "diễn giả" (năm 1993)


Thứ Năm, 24 tháng 4, 2014

Lời cảm ơn và giới thiệu:

Vừa nhận được, qua đường bưu điện:  
Thi phẩm "THƠ TÌNH VIẾT TRÊN BAO THUỐC LÁ" của Anh TRẦN DZẠ LỮ  

Do tác giả gởi tặng: 

Qua đây, xin kính gởi đến anh TRẦN DZẠ LỮ lời cảm ơn chân thành nhất và xin được giới thiệu cùng mọi người  Thi phẩm "THƠ TÌNH VIẾT TRÊN BAO THUỐC LÁ của Thi sỹ TRẦN DZẠ LỮ: 


 

Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

Một họa sĩ gốc "Đất Võ Trời Văn" lập nghiệp và thành danh nơi "Thần Kinh Thanh Lịch"

          Đó là Họa sỹ Đặng Mậu Tựu: 
 
          Hiện tại, họa sĩ Đặng Mậu Tựu đang thực hiện triển lãm tranh "NHỮNG MẢNH RỜI KÝ ỨC", gồm 29 bức,  lấy cảm hứng từ những suy nghĩ, cảm nhận về ký ức của chính tác giả đã khai mạc chiều 07/04 và dự kiến kéo dài cho đến 14/4/ 2014 tại Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng. Đây là lần đầu tiên TTNT Lê Bá Đảng kết nối để tổ chức triển lãm cho một cá nhân. Triển lãm này cũng là hoạt động hưởng ứng Festival Huế 2014. 

          Với chất liệu sơn dầu, 29 bức tranh của họa sĩ Đặng Mậu Tựu có thể là một câu thách đố những ai thích cảm nhận chiều sâu và sự tinh tế của nghệ thuật đương đại.

          Tự nói về “Những mảnh rời ký ức”, họa sĩ Đặng Mậu Tựu cho biết: “Tôi không cảm thấy mình quên, cũng không thấy mình nhớ, mà trong cái mơ hồ, tất cả đều là hình như… Hình như là khúc quành của dòng sông, là cánh đồng mùa xuân, là mưa ở một góc thành phố, là sắc rêu phong ở bờ tường thành cổ, là câu chuyện buồn vui dang dở, là hạnh phúc đầy tràn, cả những niềm đau quặn thắt ở nơi những thân phận đầy bi thương mà mình đã gặp, cả những giấc mơ nửa chừng, có cả bạn bè, những người thân yêu và những người thù ghét mình… Tất cả đều không trọn vẹn, có cái còn nhìn rõ, có cái vụn vỡ tan hoang. Và rồi tôi đã nhặt nó để tái hiện, không chắp lại thành khuôn hình vốn có mà cứ nguyên vậy để chiêm nghiệm, xuýt xoa tiếc nuối hay ân hận, ăn năn với những cảnh cũ việc xưa...”. 
  
           Giới thiệu với mọi người họa phẩm "Hồn nhiên sơn cước", một trong số 29 bức tranh sơn dầu mà họa sĩ Nguyễn Mậu Tự đang trưng bày tại triển lãm:

           P/s: Cũng xin được giới thiệu thêm với quý thân hữu, họa sĩ Đặng Mậu Tựu là người em bà con bên vợ của tôi:


Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

Quân khốn nạn! Dám kéo đổ và đập nát tượng Lê-Nin.

     Ngày 08/12/2013, những phần tử biểu tình chống chính phủ tại Ukraine đã kéo đổ tượng của lãnh tụ cách mạng Nga Vladimir Lenin tại Đại lộ Shevchenko, trung tâm thủ đô Kiev.

     Hàng trăm ngàn người biểu tình đã dùng dây và thanh sắt kéo đổ rồi thay phiên nhau dùng búa tạ đập vỡ bức tượng Lenin cuối cùng, "to đẹp nhất" ở Ukraine.

     (Tụi Ukraine nầy thiệt là quá đáng! Chúng còn tệ hơn bọn Mông Cổ nhiều, tuy bọn Mông Cổ có gọi Vladimir Ilyich Lenin và các đồng chí cộng sản của Người là "những tên sát nhân" (nguyên văn: "..., He denounced Lenin and his fellow communists as "murderers") nhưng chúng chỉ gỡ bỏ bức tượng đồng cuối cùng của Vladimir Ilych Lenin và đem đi bán đấu giá chớ không đập nát đi như vậy, coi lại ở đây)

 
 Coi video clip ghi lại cảnh tượng đó: